Thuật ngữ phong thủy

     Đông tây: Môn bát dùng 8 cung nhưng chia làm hai phe phía: Đông và Tây, Đông thuộc Mộc, Tây thuộc Kim. Đông cũng gọi là Đông tứ cung vì nó gồm bốn cung Khảm, Ly, Chấn, Tôn. Chấn tốn thuộc mộc về Đông đã đành, nhưng thêm Khảm Ly nữa vì Khảm Thủy với Mộc tương sanh và Ly hỏa với Mộc cũng tương sanh. Bốn cung này cùng một phe phía với nhau cho nên gặp nhau tất biến thành những Du niên tốt. Tây cũng gọi là Tây tứ cung vì nó gồm 4 cung KIỀN, KHÔN, CẨN, ĐOÀI. Kiền Đoài thuộc Kim đã đành, nhưng có thêm Khôn Cấn nữa vì Khôn Cấn Thể với Kim là tương sanh. Bốn cung này đồng một phe phía với nhau cho nên gặp nhau tất hở biến được cát Du niên tốt.

Thuật ngữ phong thủy

     
      Nếu Đông tứ cung gặp Tây tứ cung hở biến với nhau tất gặp những hung Du niên, xấu, vì hai phe khác nhau, phe Đông mọc với phe Tây Kim tương khắc. Chú ý: tây tứ cung là Kiền Khôn Cân Đoài so đối với nhau đều đặn tương sanh hay tứ hòa chớ không có tương khắc, mặc dầu hở biến cũng được Du niên tốt vậy. Đó là chở sai biệt. (Cát Du niên là Du niên tốt gồm có: Sinh khí, Diên niên, Thiên y và Phục vi Hung Du niên gọi là Du niên xấu gồm có: Tuyệt mạng Ngũ quỷ, Lục sát và họa hại).
     Đông tứ trạch: là nhà có của cái và chủ nhà hay sơn chủ đều ở trong vòng 4 cung Khảm Ly Chấn Tôn thi nhà mất tốt vì cùng một phe với nhau. Nếu có lộn tây tứ cung thì gọi là Đông Tây cung tương hỗn (hỗn loạn) nhà ở đất Xấu
     Tây tứ trạch: là nhà có cửa cái và chủ nhà hay sơn chủ đều ở trong vòng 4 cung Kiền Khôn Đoài thì nhà ở đất tốt thì cùng một phe với nhau. Nếu có lộn đông tứ cung vào thì gọi là Đông Tây tương hỗn, nhà ở đất xấu.
      Đông trù: là bếp Đông. Phàm bếp đặt tại một trong 4 cung Khảm Ly chấn Tốn thì gọi là Đông trù. Đông trù đem thịnh vượng cho đông tứ trạch nhưng làm suy bại Tây tứ trạch.
     Tây trù: là bếp tây. Phàm bếp đặt tại một trong 4 cung Kiền Khôn Cấn Đoài thì gọi là Tây trù. Tây trù làm thịnh vượng cho Tây tứ trạch, nhưng gây suy bại cho Đông tứ trạch…
     Đông mạng: Mạng của chủ nhà là một trong 4 cung Khảm Ly Chấn Tôn thì gọi là Đông mạng. Đông mạng nên ở nhà Đông tứ trạch mới tốt, bằng ở nhà Tây tứ trạch không hợp, bớt tốt.
     Tây mạng: Mạng của chủ nhà là một trong 4 cung Kiền Khôn Cấn Đoài thì gọi là tây mạng. Tây mạng nên ở nhà tây tứ trạch mới tốt, ở nhà đông tứ trạch không hợp bớt tốt.



Ngũ quỷ và ba cát tinh đắc vị

       Ngũ quỷ (hung du niên)
     (Ngũ quỷ hay Liêm trinh cũng vậy, rất độc hại bởi vậy có bài này luận riêng về nó. Có cả nguyên âm kèm lời phóng dịch).
-    Liêm quỷ nhập Đoài, kiến, tiểu khẩu định tai ương, trùng trùng tổn ngũ khẩu, gia trung bất an khương.

Ngũ quỷ và ba cát tinh đắc vị 1

      Dịch: Sao Liêm trinh hay du niên Ngũ quỷ gặp Kiến Đoài thì con trẻ bị tai ương, hên tiếp làm tổn hại 5 người, trong nhà chẳng yên ổn, khỏe mạnh.
      Liêm quỷ nhập thủy hương, khiến tử tao tai ương, trưởng tử tiểu khẩu, lụy lụy bệnh đa thương. Dịch: Liêm trinh hay ngũ quỷ gặp thủy hướng là cung Khảm sẽ không có con trai dễ gặp hỏahoạn, con trưởng và trẻ nhở chết mất, thêm mãi bệnh hoạn và đau thương.
-     Liêm quỷ Chấn Tốn gian, mới tuế đạo tặc hên, gia trung tài thất tán, nam nữ thọ ngao tiên. Dịch: Liêm trinh hay ngũ quỷ gặp cung Chấn cung Tấn thi trộm cướp tới liền liền mới năm, trong nhà tiền bạc hao mất, cả trai và gái đểu bị héo mòn tàn tệ.
-     Liêm quỷ đáo bổn cung, sơ niên nhi phòng vinh, trưởng nam chuyên quyền bính, tài tán họa sự sinh. Dịch: Liêm trinh hay Ngũ quỷ gặp bổn cung là gặp cung của nó tức cung Ly (vì Ly đồngthuộc một loại hỏavới Liêm quỷ) thì lúc đầu hai phòng được quẻ vang, con trưởng nắm quyền hành, tiền tài hao tốn và sinh tai họa.
       Liêm quỷ nhập Cấn Khôn, lục súc tinh nan tổn, tây nam tổn ngũ khẩu, đông bắc thương tam nhân. Dị: Liêm trinh hay ngũ quỷ gặp cung Cấn cung Khôn thì lục súc đều chết toi. Nó ở Tây Nam (gặp Khốn) thì làm tổn hại 5 miệng (5 người), bằng ở Tây bắc (gặp Cấn) làm thương hại 3 người.
Ba cát tinh đắc vị
      Sao Tham Lang, Mộc, cư ở phương Bắc Thủy, Mộc Thủy đắc vị chủ có 5 con trai, 10 cháu trai, đều tuấn tu, vinh hiển lâu dài. Nếu đến phương đông Chấn, Tốn, hai Mộc thành rừng, con em đi thi điều chiếm bảng vàng.
Ngũ quỷ và ba cát tinh đắc vị 2

      Sao cự Môn, Thổ, cư ở phương Nam, chủ con cháu phát đạt hưng vượng, phú quý lâu dài. Nếu cổng lớn là sao cự Môn, Thổ vị sinh khí tại hướng sao Vũ Khúc; Kim Tinh, nếu cổng lớn là sao Lộc Tởn, Thổ vị, sanh khí tại hướng sao Phá Quân, Kim Tinh.
     Sao Vũ Khúc, Kim, cư ở phương Nam Hoa, Kim gặp dương Hỏa được luyện thành khí quyết tốt đẹp, gia nghiệp hưng vượng, hanh thông. Nếu còn tương sinh đắc vị với Thổ, thì con em trong nhà sẽ thi đậu trạng nguyên.
      Sao Văn Khúc Thủy, cư ở trung ương Thổ, bị Khắc, trở thành hung tinh. Phải sớm ốp chế hung tinh, mới có thể thi cử đỗ đạt.


 

Sanh khí (các du niên)

       Các việc thay đổi tu bổ thêm phòng ốc cả đến sự trong bông lập vườn cứ theo phương Cát mà làm, kỵ tạo hung phương trong nửa năm họa phước có thấy ứng.
        Mới cung mạng phương hướng Cát hung khác nhau. Kẻ này sánh khí hướng Tây Đoài, người nọ Sanh khí lại nơi Đông Chấn…v.v…

      
 Sanh khí (các du niên)


       Có người dùng phương Sanh khí thì phát tài hưng vượng, còn người sao lại dùng phương Sanh khí mà điều linh suy bại.
1    Sanh khí thuộc Mộc tinh lập tại Thủy, Mộc, Hỏa vi đắc vị bất nghi kim Thổ phương.
2   Thiên y thuộc Thổ lập tại Hỏa, Thổ, Kim vi đắc vị bất nghi Mộc, Thủy phương. 
3   Diễn niên thuộc Kim lập tại Kim, Thổ, Thủy ví đặc vị nghi Mộc, Hỏa phương. 
       Câu 1 trên nói: Những người dùng trạch Sanh khí nhằm hướng Thủy, Mộc, Hỏa mới đắc vị là phải chở tốt. Bởi Sanh khí thuộc Tham Lang Mộc tinh nói tắt là mộc tinh cho dễ. Mộc tinh gặp Thủy được sanh sôi nẩy nở, gặp Mộc thêm rườm rà vương phát, gặp Hỏa được tương sanh (xem lại ngũ hành tương sanh ngũ hành tương khắc). Bất nghi Kim, Thổ chẳng nên dùng hướng Kim Thổ kỵ, vì Mộc tinh gặp Kim bị Kim khắc, mà gặp Thổ thì khắc Thổ cũng bất lợi (Sanh khí thuộc Tham Lang Mộc tinh hạp hạp kỵ tuổi nào? Hướng nào?). 
       Người mạng Kiền tức Sanh khí hướng Đoài, Đoài thuộc Kim khắc Mộc tin hung. Người Khảm Sanh khí hướng Tôn Mộc vượng phát Mộc tinh Cát. Người Cấn Sanh khí hướng Khôn Thổ bị Mộc tinh khắc hung. Ngưởi Chấn Sanh khí hướng Ly, Hỏa được tương sánh Cát. Người Tốn Sanh khí hướng Khảm, Thủy sanh Mộc Cát Người Ly Sanh khí hướng Chấn Mộc được Mộc vượng. Người Khôn Sanh khí hướng Cấh thổ bị tương khắc. Người Đoài Sanh khí hướng Kiền Kim khắc Mộc tinh hung. 
        Hai câu sau cùng suy lượng ngũ hành sinh khắc như vậy: Nếu xét thấy tuổi nào phương Sanh khí có lợi thì dùng, bất lợi sẽ dùng Diên niên hoặc Thiên y cũng Đại Cát.